Gần bốn thập niên kể từ Đổi mới, động lực phát triển của kinh tế Việt Nam đã nhiều lần thay đổi. Từ giải phóng sức sản xuất, tận dụng nguồn lao động dồi dào, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đến mở rộng xuất khẩu và hội nhập quốc tế, mỗi giai đoạn đều tạo ra một lực đẩy mới cho nền kinh tế. Tuy nhiên, những lợi thế tạo nên thành công của hôm qua không mặc nhiên bảo đảm thành công cho ngày mai. Khi đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững ngày càng trở thành những động lực quan trọng, một câu hỏi cần được đặt ra: Ai sẽ vận hành nền kinh tế xanh của Việt Nam?

Ảnh: Động lực phát triển kinh tế Việt Nam
Từ “có việc làm xanh” đến “có khả năng làm việc xanh”
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050 đã xác lập định hướng tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới thịnh vượng kinh tế, bền vững môi trường và công bằng xã hội. Kế hoạch hành động quốc gia sau đó cụ thể hóa chiến lược thành 18 chủ đề, 57 nhóm nhiệm vụ và 134 nhiệm vụ, hoạt động. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh không chỉ cần chính sách, vốn hay công nghệ; cuối cùng vẫn phải có con người đủ khả năng biến những yếu tố đó thành hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị cụ thể.

Ảnh: Một dự án triển khai tại Lab Kinh tế tuần hoàn
Một số liệu đáng suy nghĩ được ILO dẫn từ phân tích của Ngân hàng Thế giới: việc làm xanh mới chiếm khoảng 3,6% tổng việc làm tại Việt Nam, nhưng hơn 40% nghề nghiệp có tiềm năng trở thành nghề xanh. Khoảng cách giữa 3,6% và hơn 40% cho thấy bài toán của Việt Nam lớn hơn việc tạo thêm một số chức danh nghề nghiệp mới. Điều cần thiết còn là xanh hóa chính lực lượng lao động hiện hữu, để người lao động trong nhiều ngành nghề khác nhau có khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của nền kinh tế.
Theo cách tiếp cận đó, một người làm marketing cần hiểu tiêu dùng bền vững và nhận diện nguy cơ “tẩy xanh”; người làm tài chính cần tiếp cận tài chính xanh; người quản trị chuỗi cung ứng cần hiểu dòng vật chất, phát thải và kinh tế tuần hoàn; còn nhà quản trị tương lai phải biết cân nhắc đồng thời hiệu quả kinh tế, sử dụng tài nguyên và tác động môi trường. Vì vậy, nhân lực xanh không nên chỉ được hiểu là những người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực môi trường, mà rộng hơn là những người có kiến thức, kỹ năng và tư duy cần thiết để tạo ra giá trị kinh tế theo một phương thức bền vững hơn.
Đại học phải chuẩn bị gì?
Nếu thị trường lao động đang thay đổi theo hướng đó, giáo dục đại học cũng đứng trước một câu hỏi khó: Sinh viên tốt nghiệp đang được chuẩn bị cho nền kinh tế đang hình thành hay chủ yếu cho cấu trúc nghề nghiệp của hôm qua? Việc bổ sung những nội dung về ESG, phát triển bền vững hay kinh tế tuần hoàn vào chương trình đào tạo là cần thiết, nhưng sẽ chưa đủ nếu tri thức ấy dừng lại trong bài giảng và phòng học.
Sinh viên có thể hiểu khái niệm kinh tế tuần hoàn nhưng chưa chắc giải được một bài toán tuần hoàn của doanh nghiệp; có thể biết về phát triển bền vững nhưng chưa chắc biết thu thập dữ liệu, xác định vấn đề, lựa chọn phương án, triển khai và đo lường kết quả. Vì vậy, khoảng trống quan trọng cần được thu hẹp chính là khoảng cách giữa “biết” và “làm được”. Quá trình chuẩn bị nhân lực xanh, theo đó, cần được nhìn như một hành trình liên tục từ nhận thức – kiến thức – kỹ năng – thực hành – minh chứng năng lực – việc làm.
Trong hành trình này, “minh chứng năng lực” là mắt xích đặc biệt quan trọng. Một dự án đã thực hiện, một giải pháp đã đề xuất, một nghiên cứu tình huống hay một portfolio có thể cho doanh nghiệp biết nhiều hơn việc sinh viên đơn thuần tuyên bố rằng mình “hiểu về phát triển bền vững”. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu cho trường đại học: bên cạnh việc cung cấp tri thức, cần tạo ra những môi trường để sinh viên thử, làm, sai, điều chỉnh và chứng minh điều mình có thể làm được.
Phòng Lab có thể trở thành nơi thử nghiệm năng lực
Đây cũng là một hướng mà Circular Economy Lab tại PTIT – Cơ sở TP.HCM đang từng bước thử nghiệm. Thay vì chỉ xem Lab như một không gian nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn, có thể đặt Lab vào khoảng giữa lớp học và doanh nghiệp, nơi sinh viên quan sát những chuyển động của thị trường, gặp gỡ chuyên gia, tiếp cận các bài toán thực tế, thử nghiệm giải pháp và từng bước tạo ra minh chứng về năng lực của mình.
Theo cách tiếp cận đó, những hoạt động như Market Pulse – Nhịp Đập Thị Trường, các dự án kết nối doanh nghiệp, nghiên cứu, tọa đàm chuyên gia hay học tập thông qua thực hành không nên chỉ được đánh giá bằng số sự kiện đã tổ chức hoặc số người tham dự. Câu hỏi quan trọng hơn cần được đặt ra là: Sau mỗi hoạt động, sinh viên đã hình thành thêm năng lực gì và có thể chứng minh năng lực đó bằng kết quả nào? Đây cũng là sự chuyển dịch từ tư duy tổ chức hoạt động sang tư duy phát triển năng lực người học.
Một doanh nghiệp có thể đưa bài toán thực tế vào trường; sinh viên nghiên cứu vấn đề; giảng viên cung cấp phương pháp; chuyên gia và doanh nghiệp tham gia phản biện; giải pháp được thử nghiệm, điều chỉnh và đánh giá. Qua quá trình ấy, sinh viên không chỉ học thêm một khái niệm mà còn có cơ hội tạo ra sản phẩm, dự án hoặc minh chứng năng lực trước khi bước vào thị trường lao động. Một phòng Lab vì thế có thể trở thành không gian thử nghiệm nhỏ cho một bài toán lớn hơn: chuẩn bị lực lượng nhân sự có khả năng tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh.
Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế xanh hơn, số hóa hơn và có giá trị gia tăng cao hơn. Nhưng phía sau những chiến lược, chính sách, công nghệ và dòng vốn cuối cùng vẫn cần những con người đủ năng lực biến chúng thành quyết định, quy trình, sản phẩm và giá trị thực tế. Xây dựng nền kinh tế xanh, vì vậy, cũng phải bắt đầu từ việc chuẩn bị những con người có khả năng làm cho nền kinh tế ấy vận hành.
Th.S Bùi Đình Quế, Khoa QTKD2, Học viện PTIT HCM