Doanh nghiệp lại vận hành theo một logic khác. Vấn đề ban đầu có thể chưa phải là vấn đề thực sự; dữ liệu có thể thiếu hoặc mâu thuẫn; nguồn lực luôn hữu hạn; nhiều phương án cùng có lý nhưng không thể thực hiện tất cả. Đôi khi, điều khó nhất không phải nghĩ ra thêm một giải pháp mà là quyết định nên làm gì, không làm gì và chấp nhận đánh đổi điều gì. Nếu đó là môi trường sinh viên sẽ bước vào sau khi tốt nghiệp, có lẽ các em nên được tiếp xúc với cách ra quyết định ấy sớm hơn.

Ảnh: Ông Đỗ Ngọc Tiến, giám đốc thương mại Papro Việt nam tại một sự kiện của PTIT cơ sở HCM
Doanh nghiệp vì thế không nhất thiết phải chờ đến kỳ thực tập mới bước vào quá trình đào tạo. Họ có thể mang tới giảng đường những bài toán thật chưa có sẵn đáp án: một thị trường đang thay đổi, một nhóm khách hàng cần được hiểu rõ hơn, một quyết định truyền thông phải cân nhắc giữa nhiều phương án, hay một vấn đề mà chính doanh nghiệp cũng muốn có thêm góc nhìn mới. Khi ấy, điều doanh nghiệp mang vào lớp học không đơn thuần là một “đề bài”, mà là bối cảnh, những giới hạn và sự bất định của thực tiễn.
Khi bài toán thay đổi, vai trò của những người trong lớp học cũng thay đổi. Sinh viên chuyển từ trả lời câu hỏi sang xác định và giải quyết vấn đề: phải tìm dữ liệu, kiểm tra giả định, lựa chọn và bảo vệ quyết định. Giảng viên chuyển từ người nắm đáp án sang người thiết kế quá trình học tập, đặt câu hỏi và bảo đảm chuẩn mực học thuật. Doanh nghiệp cũng chuyển từ nơi tiếp nhận sinh viên ở cuối hành trình đào tạo thành một chủ thể có thể đóng góp vào quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp.
Tuy nhiên, chính ở đây xuất hiện một câu hỏi cần được đặt ra nghiêm túc: Doanh nghiệp nên bước vào giảng đường đến đâu? Đưa bài toán doanh nghiệp vào lớp học không đồng nghĩa trao quyền quyết định chương trình đào tạo cho doanh nghiệp, càng không nên biến sinh viên thành nguồn lao động miễn phí để giải quyết những công việc mà doanh nghiệp đáng lẽ phải tự thực hiện. Nhà trường vẫn phải chịu trách nhiệm về mục tiêu học tập, chuẩn đầu ra và chất lượng học thuật; giảng viên phải bảo đảm giá trị giáo dục được đặt trước giá trị thương mại; còn doanh nghiệp đóng góp bối cảnh, dữ liệu, giới hạn và phản hồi từ thực tiễn.
Một ranh giới khác cũng rất quan trọng: sinh viên cần được phép sai. Một đề xuất không được doanh nghiệp lựa chọn chưa chắc là thất bại trong học tập; một thử nghiệm không đạt kết quả mong muốn vẫn có thể có giá trị nếu sinh viên chứng minh được mình đã sử dụng bằng chứng nào, tại sao đưa ra quyết định đó, kết quả cho thấy điều gì và lần tiếp theo cần thay đổi ra sao. Có lẽ đây chính là điểm phân biệt giữa “làm việc miễn phí cho doanh nghiệp” và “học bằng bài toán của doanh nghiệp”.
Vì vậy, giá trị của mô hình không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng. Sinh viên được học trong những giới hạn và lựa chọn gần với thực tế hơn; doanh nghiệp có cơ hội quan sát cách một thế hệ mới nhìn nhận vấn đề của mình; còn nhà trường có thêm một phép thử khá thẳng thắn: những kiến thức chúng ta đang giảng dạy có thực sự giúp người học đưa ra quyết định khi không còn một đáp án được chuẩn bị sẵn hay không?
Có lẽ vì thế, khi nói về hợp tác Đại học – Doanh nghiệp, chúng ta không nên chỉ hỏi “Doanh nghiệp có thể tuyển sinh viên của chúng ta như thế nào?”, mà cần đặt một câu hỏi sớm hơn: “Doanh nghiệp có thể cùng chúng ta đào tạo sinh viên như thế nào?”
Tại Circular Economy Lab – PTIT HCM, chúng tôi đang chuẩn bị thử nghiệm câu hỏi ấy theo một cách rất cụ thể. Và câu chuyện tiếp theo sẽ bắt đầu từ chính một lớp học.
Th.s Bùi Đình Quế – Giảng viên khoa QTKD2, Học viện PTIT HCM